Di tích - Danh thắng trên địa bàn Phường Kiến Tường
DI TÍCH NÚI ĐẤT
Núi Đất được chính quyền Ngô Đình Diệm xây dựng từ năm 1957 đến 1960, song song với công cuộc kiến tạo tỉnh lỵ của tỉnh Kiến Tường (nay là Phường Kiến Tường). Tỉnh trưởng Kiến Tường là Đinh Văn Phát đã cho mời họa viên kiến trúc ở Sài Gòn về lập đề án thiết kế tôn tạo khu Núi Đất trở thành một nơi có phong cảnh đẹp của trung tâm tỉnh lỵ mới. Đề án thiết kế này được Ngụy quyền Sài Gòn thông qua và bắt đầu cho thi công vào đầu năm 1957 với chu vi hơn 1ha. Ngoài bản tính tàn bạo, hung hăng trong việc lùng bắt người kháng chiến cũ, Đinh Văn Phát còn là một quan tham có tiếng. Y đã sử dụng lực lượng tù chính trị đang bị biệt giam tại trại giam Kiến Tường ra lao động khổ sai tại đây để ém nhẹm gần trọn số tiền ngân sách quốc gia chi cho việc thuê mướn nhân công. Trong khi làm việc tù nhân bị đánh đập cùng với thời tiết khắc nghiệt nên họ chết rất nhiều. Có thể nói rằng công trình Núi Đất đã thấm mồ hôi, máu và nước mắt của bao anh em tù chính trị lúc đó. Trải qua gần 3 năm ròng rã, đến giữa năm 1960, Núi Đất cơ bản hoàn thành, cũng là lúc Đinh Văn Phát bị thuyên chuyển đi nơi khác do nhân dân nơi đây phản đối chế độ cai trị hà khắc và thói tham nhũng của y.
Ngày 14/9/1960, tân tỉnh trưởng Kiến Tường là Lê Thành Nhựt đến nhậm chức và tiếp tục công trình xây dựng Núi Đất. Là người theo Công giáo nên ngoài những công trình có từ thời trước, tỉnh trưởng Lê Thành Nhựt đã cho đúc tượng Đức Mẹ cao hơn 2m đặt giữa đỉnh núi lớn, 2 tượng thánh Phê - rô và chúa Giêsu đặt hai bên trái núi nhỏ. Do vậy, khu Núi Đất còn được gọi là núi Đức Mẹ. Núi Đất lúc bấy giờ được xem là một địa điểm nghỉ mát hấp dẫn của các quan chức Sài Gòn – kể cả Ngô Đình Diệm mỗi khi về tỉnh lỵ Kiến Tường.
Với giá trị về khoa học, nghệ thuật và lịch sử, Núi Đất đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Long An xếp hạng là di tích cấp tỉnh tại Quyết định số 1308/QĐ-UB, ngày 29/7/1994.
ĐỀN THỜ ĐỐC BINH KIỀU
Đốc binh Nguyễn Tấn Kiều là người miền Trung di cư vào Nam lập nghiệp, ông đến Gia Định đầu quân chống thực dân Pháp. Nhờ giỏi võ nghệ, ông được cử chỉ huy một đội dân dũng. Ông đem quân về hợp tác với Thiên Hộ Dương, được phong chức Đốc binh và rồi trở thành Phó tướng. Ông cùng Thiên Hộ Dương lập căn cứ chống Pháp ở vùng Đồng Tháp Mười và nơi đây thực sự trở thành trung tâm kháng chiến mới trong những năm 1864 - 1866.
Do địa thế nơi ông trấn giữ có nhiều đầm lầy, tràm đưng cùng vô số muỗi, đỉa,… nên ông cùng nghĩa quân nghĩ ra nhiều cách đánh du kích khá hiệu quả như thả ong độc, rắn độc; lợi dụng cỏ khô trên đồng, dùng kế hỏa công, gài chông, đặt bẫy,… để tiến hành nhiều trận tấn công trên bộ, dưới sông, tạo thành sức mạnh tổng hợp đẩy lùi nhiều trận càn quét của kẻ thù. Đốc Binh Nguyễn Tấn Kiều hy sinh năm 1866, di hài của ông được nghĩa quân an táng tại Gò Tháp, tỉnh Đồng Tháp.
Tại Phường 1, thị xã Kiến Tường, đền thờ Đốc binh Nguyễn Tấn Kiều được đầu tư xây dựng để tôn vinh vị Anh hùng dân tộc và giáo dục truyền thống yêu nước. Từ nhiều năm nay, lễ kỷ niệm ngày hy sinh của ông là dịp để nhân dân ôn lại lịch sử kháng chiến chống Pháp hào hùng của quân và dân vùng Đồng Tháp Mười, với các nghi thức truyền thống gồm: Lễ cầu quốc thái dân an, lễ dâng hương, lễ tế thần nông và lễ bái cúng Đốc binh Nguyễn Tấn Kiều,…